Nhà thơ Trần Nhuận Minh - Dưới những lớp sóng thời gian

NGÔ XUÂN HỘI

 

Nhà thơ Trần Nhuận Minh, sinh ngày 20-8-1944. Quê quán: Điền Trì, Quốc Tuấn, Nam Sách, Hải Dương. Dân tộc: Kinh. Hiện thường trú tại 47 Lê Thánh Tông, TP Hạ Long, Quảng Ninh. Đảng viên Đảng ĐCSVN, Hội viên Hội Nhà văn VN từ năm 1982.

VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP, CÔNG TÁC: Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từng là giáo viên; tham gia thành lập Hội VHNT tỉnh Quảng Ninh, sau đó được cử làm  Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Quảng Ninh, Tổng Biên tập báo Hạ Long…

TÁC PHẨM CHÍNH ĐÃ XUẤT BẢN: 44 tác phẩm, riêng thơ 22 tác phẩm. Các tập thơ chính: Nhà thơ và hoa cỏ, Bản Xônat hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, Bốn mùa - Four seasons, Miền dân gian mây trắng - The white cloud popular area, Thành phố Dịu Dàng, Qua sóng Trường Giang, Liệu có kiếp sau;  và Trong hy vọng khôn cùng, Maxcơva; Trần Nhuận Minh - Thi ca tinh tuyển tập, Bắc Kinh.  22 tác phẩm khác là văn xuôi, phê bình nghiên cứu, biên khảo…

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC: Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật, đợt 2 năm 2007, và 23 giải thưởng và tặng thưởng văn học khác…

 

Tháng 10 năm 1974, tôi dự lớp Bồi dưỡng sáng tác thơ do Hội Văn nghệ Quảng Ninh tổ chức. Nhà thơ Trần Nhuận Minh khi ấy là Trưởng Ban thơ của Hội, chịu trách nhiệm đọc những sáng tác của chúng tôi. Với cảm nhận thơ tinh tế, mọi nhận xét, góp ý của ông sau đó luôn khiến chúng tôi tâm phục khẩu phục. Câu thơ của Nguyễn Châu: “Em đẹp từ đâu anh chẳng hay”,ông đổi một chữ, đâu = lâu:“Em đẹp từ lâu anh chẳng hay”, trở nên khác hẳn. Thăng hoa như sâu biến thành bướm, thoát xác bay lên, nói được cái tồ, cái giật mình ngơ ngác của người con trai khi phát hiện ra điều huyền diệu của cuộc sống xảy ra bên cạnh mình trong hình hài của một cô gái mà bấy lâu mình tưởng đã biết, đã hiểu. Còn viết như tác giả ban đầu là sự thắc mắc về nguồn gốc, lý lịch, nghe không sướng.

Hay bài thơ Gió cửa lò của tôi, gồm 3 khổ, 12 câu: “Người đi ra gặp trời/ Người đi vào gặp đất/ Là giới hạn của hai khoảng cách/ Cửa lò chẳng nói nhiều hơn…”. Ông bảo: “Hai khổ đầu được, nhưng khổ kết hỏng, vả lại bài thơ chưa thể dừng ở đấy. Bỏ khổ kết, viết tiếp, khi nào thấy đủ thì thôi”. Tôi đọc lại bản thảo, ngẫm lời ông thấy đúng, liền bỏ khổ kết như ông nói, hì hục viết thêm 4 khổ nữa. Bài thơ khi hoàn thành, 6 khổ, 24 câu. Năm 1975 gửi dự thi thơ báo Văn nghệ, được in ngay. Gió cửa lò trở thành bài thơ đầu tiên của tôi in báo Văn nghệ như thế.

Trong lớp Bồi dưỡng sáng tác thơ ngày ấy, ông còn nói nhiều nữa với chúng tôi về cái hay, cái đẹp của thơ, về nghệ thuật biểu cảm của câu chữ trong một số bài thơ cụ thể, nhưng lâu quá tôi quên mất… 44 năm rồi còn gì! Tuy vậy khi ông nói về quan niệm sống của mình, có một câu mà gần nửa thế kỷ trôi qua tôi vẫn thuộc nằm lòng và luôn cố gắng làm theo, đấy là: “Làm người, sống trong trời đất, đến đâu cũng phải vào cổng chính, ngồi gian giữa. Nói với ai thì nhìn thẳng mặt”. Quan niệm ấy, cốt cách ấy không phải ông có được ngay từ đầu, mà trước hết là của các bậc chân nho như Chu An, Hàn Thuyên… mà ông ngưỡng mộ, của các liệt tổ liệt tông nhà ông như quan Hình bộ thượng thư, Tiến sĩ Trần Thọ (1639 – 1700); quan Tế tửu Quốc Tử giám, Tiến sĩ  Trần Cảnh (1684 – 1758); quan Phó đô ngự sử, Tiến sĩ Trần Tiến (1709 – 1770)… còn ghi trong “Địa chí Hải Dương”và trong “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” mà ông kính ngưỡng. Rồi qua lăn lộn với cuộc đời, ông tâm đắc, lấy đó làm phương cách sống của mình.

Buổi mới vào đời, ông cũng như tôi, như anh, như nhiều người trong chúng ta, là một chàng trai tốt tính, giàu ảo mộng và khá lơ ngơ. Vì vậy khi nghe anh bạn thơ Hà Giao, người Hải Phòng nói mình đang tìm cách cứu một cô gái 18 tuổi, nếu có người nhận trách nhiệm, thì cô không bị đuổi khỏi trường Sư phạm cấp I Kiến An vì chửa hoang… thì ông liền hăng hái ra tay tế độ. Đầu tiên là viết thư cho cô, hẹn sẽ đến thăm, sau đó đạp xe 75 cây số đến nhà cô ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng thưa với bố mẹ cô, rằng:

“Cháu đến xin lỗi hai bác là đã có quan hệ với em H (tên cô gái), để xảy ra cái việc làm hai bác phiền lòng. Em H chắc cũng đã thưa với hai bác rồi. Giờ cháu xin chịu trách nhiệm và lo một phần cho em”

Ông bố đang ngồi trên cái sập gỗ hút thuốc lào ngẩng lên nhìn xói vào mặt Trần Nhuận Minh, hỏi:

“Thế ra là anh à? Lạ nhỉ? Có thật thế không?

“Thật ạ”.

Trần Nhuận Minh thưa.

“Thế thì em nó ở dưới bếp”

Ông nói và thõng chân đứng dậy vứt cái xe điếu chưa kịp hút, suýt nữa trúng vào đầu “chàng rể” từ trên trời rơi xuống này. Trần Nhuận Minh xuống bếp, thấy H đang nấu cơm. Trời nóng, bếp nóng. Cô ngồi, đầu gối quá tai, bụng đã hơi to. Liếc ngang ông thấy cô mặt gầy, cằm hơi nhọn, vêu vao, gò má hơi cao, nhiều nốt tàn hương. “Nếu mình lấy cô thì cũng chán”, Trần Nhuận Minh nghĩ. Nhưng rồi lòng thương đã choán hết tâm hồn ông, ông bảo với cô: “Chiều nay anh sẽ nhận trách nhiệm và làm các thủ tục để em không bị đuổi học. Sau này, em sinh con, nếu chúng ta thông cảm và thương yêu nhau, em có thể là vợ anh”.

H khóc: “Em không biết phải cảm ơn anh như thế nào và hoàn toàn không hiểu tại sao, anh tự nhiên mà nhảy vào cuộc. Thôi, em xin anh, anh hãy cứu giúp em cái đận này…”

Ông còn đến thăm cô lần nữa, tặng cô 45 đồng (tròn một tháng lương) và 2m vải lụa trắng. Khoảng hơn một tháng sau, ông nhận được thư cô, báo tin đã sinh con gái và đặt tên cho cháu là Minh T. Cô cũng lấy tên ông làm đệm cho mình là Minh H. “Em xin lạy anh một lạy – cuối thư cô viết – và nói dứt khoát với anh rằng, em cấm anh, từ nay, không được đến với em nữa. Em không tiếp”.

Sau này, khi đã qua nhiều trải nghiệm, nhà thơ của chúng ta “khôn hơn”, nhưng cái tiết tháo của một bậc chân nho thì vẫn vậy. Ngôi nhà ông ở Hạ Long là nơi lui tới của nhiều anh em bạn viết trong nước và trong tỉnh. Năm 1971, nhà thơ Đào Ngọc Vĩnh phẫn chí khi thấy thơ mình chậm được in, trong một đêm ngủ tại nhà ông, đã cho tập bản thảo vào bếp lò mùn cưa đốt. Phát hiện ra, ông dấu Vĩnh dập lửa rồi dày công ngồi phục dựng. Bản thảo sau đó in chung với Yên Đức trong tập Lửa hàn – Ngõ thợ. Phần thơ Đào Ngọc Vĩnh 14 bài mang tên Ngõ thợ, chính là những gì sót lại của tập bản thảo bị đốt, khiến Đào Ngọc Vĩnh cảm động rơi nước mắt.

Rất chiều bạn, nhưng khi bị xúc phạm thì ông cũng gai ngạnh như ai. Năm 1980 nhà thơ Triệu Nguyễn bị đánh, người đánh ra đòn rất kín khiến bên ngoài ai cũng nghĩ kẻ đánh Triệu là Trần Nhuận Minh, cả Triệu Nguyễn ban đầu cũng tưởng vậy. Trần Nhuận Minh bực lắm, ông không có tài võ “ba lược sáu thao” cũng không được thần nhân cho “hai đạo phù thần” để có thể quyết liệt như Lục Vân Tiên“…thấy chuyện bất bình chẳng tha”, thì ông bộc lộ cái nộ khí theo cách của ông vậy. Một buổi Nhuận Minh tìm gặp Triệu Nguyễn ở cơ quan nói điều phải quấy:

“Này ông Triệu. Ông là một người làm thơ mà tôi nể trọng. Với một người tôi nể trọng thì tôi không bao giờ đánh, vậy mà ông lại cứ nói là tôi đánh ông thì ông phải bị tôi chửi thôi” – Nói đoạn, nhà thơ ngừng lời, nhìn thẳng bạn, buông một câu chửi tục. Bị chửi, Nhà thơ Triệu Nguyễn cũng là một chính nhân quân tử, ở chỗ, ông không bao giờ đánh ai nếu thấy người đó kém mình, cười bảo Trần Nhuận Minh:

“Tôi chưa nói với ai là ông đánh tôi, nhưng nếu có ai đó nói ông đánh tôi trước mặt tôi thì tôi không cải chính”

          Cuộc “thư hùng” của hai nhà thơ, hai bậc chính nhân quân tử đến đây chấm dứt.

          Trần Nhuận Minh là thế, hào hiệp và ngay thẳng. Tính cách này ảnh hưởng nhiều đến thơ ông: Câu thơ như gan ruột/ Phơi ra giữa trời mây…”trước như thế, sau lại càng như thế. Nhưng “trước” là khi nào?  “sau” là khi nào? Xin thưa, trước, ấy là năm ông 15 tuổi, in bài thơ đầu tiên, quyết định mình sẽ trở thành nhà thơ, cho đến năm 1986, kéo dài gần 30 năm. Giai đoạn này ông viết để phục vụ nhiệm vụ chính trị trước mắt. Nghĩa là viết cái mà cuộc sống cần ở mình. Chủ đề tư tưởng là các nhiệm vụ chính trị cần phải đạt đến. Nội dung hiện thực là thực tế nó cần phải xảy ra, còn nó có xảy ra thật như thế hay không, điều ấy không quan trọng. Đặc điểm này không chỉ ở riêng ông, mà của cả một nền thơ của một giai đoạn lịch sử đã được viết trong quan điểm đó, rất trong sáng và chân thành. Ấy là giai đoạn: “Toàn đất nước có chung tâm hồn, có chung gương mặt” (Chế Lan Viên). Và ông chất phác, đơn giản trong lối tả chân mộc mạc của phương pháp hiện thực: “Bạn ơi, tôi có hai lá phổi/Một là làng Điền Trì mùa thu nước nổi/Một nữa là phố mỏ Hồng Gai quanh năm rừng rực nắng trời/Giữa hai lá phổi lành. Đây, trái tim tôi// Tim tôi đập theo từng nhịp thở/ Khi thì héo như hoa. Lúc lại tươi như cỏ/ Máu đi về trong âm điệu các bài ca/ Trong vui buồn, tôi chưa biết nói ra…”

Rồi ông cũng học được cách nói ra các vui buồn, (theo ông) bắt đầu từ năm 1986 khi công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng được phát động. Từ đây ông hay nói về đổi mới, về năm 1986, như một dấu mốc lớn trong cuộc đời thơ của mình.Tuy nhiên, “đổi mới” chỉ thực sự có tác động mạnh ở người sẵn sàng cho nó. Lấy năm 1986 làm dấu mốc,sự chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận đổi mới của Trần Nhuận Minh diễn ra ít ra cũng từ hơn mười năm trước, trong chuyến đi thăm Huế tám tháng sau ngày đất nước thống nhất. Với tư cách là nhà thơ đại diện cho giai cấp công nhân từ ngoài Bắc vào, đến Huế ông đã có nhiều cuộc tiếp xúc và chuyện trò với một số anh em văn nghệ sĩ tiêu biểu của đất cố đô. Những cuộc tiếp xúc ấy đã để lại cho ông nhiều ấn tượng, suy nghĩ. Nhưng ấn tượng nhất lại là cuộc tiếp xúc ngẫu nhiên ngoài đường trong một buổi chiều khi mọi người cùng nhau đi tản bộ. Nhà văn Sĩ Hồng (cùng đoàn), hỏi một “mệ” bên đường: “Kia có phải là nhà thằng Ngô Đình Cẩn không ông?”. “Chắc các ngài mới ở ngoài Bắc vô?”. “Mệ Huế” kia hỏi lại. “Vâng!”, Sĩ Hồng đáp, bụng hoan hỉ…  Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày giây, Sĩ Hồng và các thành viên trong đoàn điếng người khi “mệ Huế” cười nụ: “Tôi biết ngay, vì chỉ ngoài Bắc mới gọi người già là thằng”.

Trở về khách sạn, suốt đêm đó Trần Nhuận Minh không ngủ, gạt nỗi tự ái sang một bên, ông nhận ra khoảng cách mênh mông giữa “ta” và “địch”, giữa miền Bắc với miền Nam. Phải dùng thơ để góp phần lấp đầy khoảng cách ấy, bằng cách thay đổi ngòi bút, viết về cái mà mình cần phải có ở tác phẩm của mình, nỗi ám ảnh của cá nhân mình trước mọi cái mắt thấy, tai nghe, cùng với những tổng kết, trải nghiệm của cả cuộc sống mà mình tích tụ được đến lúc đó, qua lăng kính của chủ nghĩa nhân văn. Nhưng chủ nghĩa nhân văn nói ở đây được thể hiện ra từng câu chữ cụ thể như thế nào thì ông chưa biết. Chủ trương đổi mới của Đảng đến sau đó đã vạch những tia chớp, biến mối dự cảm của nhà thơ thành câu chữ như mưa rơi xuống đất. Hàng loạt tác phẩm của ông ra đời: Bản xônat hoang dã (2003), 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007), Miền dân gian mây trắng (2008)… viết với một bút pháp khác hẳn giai đoạn trước.

Tiêu biểu trong số đó, theo tôi là tập Nhà thơ và hoa cỏ (1986-2001). Đã có nhiều bạn đọc, nhà thơ, nhà phê bình nhận xét về tác phẩm này của ông. Tôi nếu viết, cũng khó phát hiện thêm được điều gì mới. Nhưng cảm nhận của riêng tôi, trong Nhà thơ và hoa cỏvới lối viết chân thành và bình đạm, Trần Nhuận Minh từ tốn trình bày các số phận, các cảnh huống, có khi có một lời bình luận, còn thì không… vì ông muốn hiện thực trong bài thơ tự lên tiếng. Bút pháp ấy ông học được ở các nhà thơ cổ điển Việt Nam và Trung Hoa. Trong một số trường hợp, để lạ hóa, ông còn học cách “cắt dán” của thơ hiện đại phương Tây, “cắt” cái thật đen của hiện thực này, “dán” vào bên cạnh cái thật trắng của ý tưởng kia, để làm nổi bật tính cảnh báo của vấn đề, có lẽ thế chăng mà thơ ông được chấp nhận rộng rãi. Tập thơ có hàng trăm gương mặt và số phận. Gương mặt nào, số phận nào cũng găm vào tâm trí người đọc, chẳng thế mà nhà thơ Huy Cận đã hứng khởi viết: Đọc Nhuận Minh giữa biển trời/ Cảm thương thân phận những người trong thơ/ Cho hay tự cổ đến giờ/ Thơ là nhân bản, là tơ nhựa đời…”(Đọc Trần Nhuận Minh, 1999).Năm 2002, về Vùng mỏ dự Đại hội văn nghệ tỉnh, tác giả Tràng giang, Lửa thiêng… đã minh định rõ hơn điều này  trong bài phát biểu trước đám đông cử tọa:“Thơ có hai chủ đề lớn nhất là thơ về “vận nước” và thơ về“vận người”. Trong thơ vận nước, Tố Hữu là lớn nhất; trong thơ vận người, Trần Nhuận Minh là tiêu biểu.

 

*    *

*

 

Nhưng Trần Nhuận Minh không chỉ có thơ, ông còn viết tiểu thuyết, truyện vừa, lý luận phê bình; ở lĩnh vực nào cũng có những đóng góp đáng kể. Tập truyện vừa “Trước mùa mưa bão” của ông năm 1979 được Ủy ban Thiếu niên Nhi đồng Trung ương và Nhà xuất bản Kim Đồng trao giải nhất trong một cuộc vận động sáng tác “Năm quốc tế thiếu nhi”. Thời gian lên tiếng (Nxb Hội Nhà văn– 2013), tập tiểu luận xoay quanh một vài vấn đề lịch sử và văn chương mà tác giả quan tâm được bạn đọc xa gần đón nhận, hoan nghênh. Tôi đọc, thích thú với những: Về tác giả hai bài thơ Phóng cuồng ca và Nam quốc sơn hà; Vịnh núi Mèo, bài thơ khắc vào vách núi đá xã Yên Đức, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh không phải là của vua Trần Nhân Tông; Phải chăng Trương Hán Siêu còn là một “thần đồng thiên tài quân sự”; Phát hiện chợ Đông Hồ và tên húy của Hưng Ninh vương từ ghi chép của sử gia giặc; Về hai cây lim giếng Rừng vv…

Ở những tiểu luận phần lớn về lịch sử này, bài thì ông nêu một phát hiện mới của mình về một nhân vật, một vấn đề nào đó; bài ông cãi lại ý kiến của một “nhà” nào đó phát biểu về một vấn đề nào đó; bài theo ông điều này phải hiểu như thế này, điều kia phải hiểu thế kia… Dù phát hiện, cãi lại, hay suy luận, những gì ông đưa ra đều được ông kiểm chứng, đối chiếu qua nhiều nguồn tư liệu, cung cấp cho người đọc những kiến thức mới mẻ, khiến nhiều người dù không yêu ông cũng đành ngậm tăm.

Nói thế không có nghĩa những gì “Nhà sử học” Trần Nhuận Minh đưa ra đều thuyết phục. Giống như bè mảng trôi trên sông, lịch sử trôi trên dòng thời gian. Bè mảng trôi trên sông có chỗ dày, chỗ thưa, chỗ trống vắng. Trôi trên dòng thời gian, lịch sử xem ra cũng chẳng khác gì. Và những gì chúng ta bàn về cha ông thuở xa xưa đều căn cứ vào những sử liệu mà mình có được. Với những nguồn sử liệu rõ ràng, vấn đề dễ chứng minh. Nhưng với những suy luận, muốn người khác tin thì suy luận phải có lý, thuyết phục. Ví dụ, theo những nguồn sử liệu mà Trần Nhuận Minh đã dẫn, đền thờ Cửa Ông hiện nay, 100 năm trước đây không phải thờ Trần Quốc Tảng, mà  thờ Hoàng Cần, một người địa phương. Tôi tin ông nói đúng. Nhưng khi ông giải thích tên gọi Cửa Ông là do cá ông voi chết, xác dạt vào đây, nhân dân ta theo tín ngưỡng thờ thần Đông Hải đại vương nên gọi nơi này là Cửa Ông, thì phải xem lại. Vì vùng đất Cửa Ông không là cửa của một con sông nào, thứ nữa tập tính của cá voi thường sống ở vùng biển sâu. Biển vịnh Bái Tử Long cạn, nhiều đảo, không phải là nơi cho loài quái ngư quái thú ấy  thỏa chí tang bồng, nên khó có thể có một con cá ông nào đó chết rồi xác luồn lách qua hàngtrămđảo, dạt vào đây để cho nhân dân dựa vào mà định danh đất. Và đã như vậy thì tên gọi Cửa Ông, xuất xứ nhiều khi chỉ giản dị từ việc một ông Hoàng Cần nào đó đã sống ở đây mà thôi… Ấy là vì thấy Trần Nhuận Minh “hay cãi”, nên tôi cũng thử “cãi lại” ông một chút cho vui. Chứ đọc ông, biết ông đã đề cập đến một điều gì thì luôn “nói có sách, mách có chứng”, cãi không được.

Yêu lịch sử (thời Trần), yêu quê hương gắn liền với những võ công hiển hách của cha ông (Hải Dương, Quảng Ninh), từ nhà thơ, Trần Nhuận Minh trở thành “nhà sử học”. Rồi đến một khi, lòng yêu lịch sử cha ông tác động trở lại, khiến thơ ông mang đậm hơi hướng lịch sử, dù cả bài thơ không có một chữ nói trực tiếp về lịch sử.Ví dụ bài Hà Giang:

Cuồn cuộn mà im lặng

Mặt đỏ lừ trong ánh sao trôi

Sông Lô đi qua đêm như một kẻ giết người

 

Lặng lẽ bông lau rừng thả hồn vào mây trắng…

 

Cây đại ngàn nhuốm màu thu lớp lớp

Đỉnh Tây Côn Lĩnh ngút cao

Núi như đàn ngựa đang gào thét

Giữa trời

Lao

 

Cỏ non Đồng Văn hương thơm gió bay…

 

Ta hỏi Lô giang: Chảy mãi mà làm gì?

Ta hỏi Tây Côn Lĩnh sơn: Cao thế có buồn không?

Chợt thấy bông lau rừng

Ta lặng nhìn

Bất lực

 

A ha! Trời xanh, nước xanh, núi xanh, ta xanh!

 

Ta đi một mình cuối mùa hoa rơi

Chán hết mọi sự đời

Hắt rượu lên mây trắng…

 

Đặng Yên, 8/1994

 

TP Hồ Chí Minh, tháng 3-2018

N.X.H

( Nguồn tạp chí Văn Nghệ số 151)


Tags:

BIỂN NHỚ

  Hoàng Kim Vũ Kìa biển chiều nay- Biển nhớ ai? Mà sao mắt sóng kh&e...

Em đi tìm Anh

          Xuân Thanh Tặng L.T.H   Em đi t&igr...