Nguyễn Ngọc Ký - Người viết bài ca sư phạm

Ngô Xuân Hội

Nhà giáo Ưu tú, nhà văn Nguyễn Ngọc Ký nhờ tôi đọc “Tâm huyết trao đời” khi đang là bản thảo. Sách dày chưa đến 300 trang, tôi đọc ròng rã ba ngày, chậm. Ấy là vì bản thảo được anh gõ bằng chân, lỗi đánh máy vi tính hơi bị nhiều, mà tôi thì kỹ tính nên gặp những chỗ sai (hay tôi nghĩ là sai) thì phải dừng lại sửa. Dù vậy, sách vẫn không mất sự cuốn hút. Nhiều đoạn, nhiều trang tôi phải đọc đi đọc lại mấy lần. Mỗi lần đọc là một lần trào nước mắt vì xúc động.

Cũng như Tôi đi học, Tôi học đại học… những cuốn sách Nguyễn Ngọc Ký đã viết, kể chuyện mình trên con đường từ một cậu bé tật nguyền vượt khó học ở trường làng, đến giảng đường đại học. “Tâm huyết trao đời” tác giả vẫn kể chuyện mình, chỉ khác vị thế. Ở hai cuốn kia, người viết là người học, còn ở cuốn này người viết là người dạy, có nhiệm vụ gieo cái chữ, hơn thế, gieo một nhân cách sống đẹp vào tâm hồn các em. Hai vị thế khác nhau nhiều lắm, mà những khó khăn thì hầu như nguyên vẹn.

Mở đầu tập sách là cảnh Ký và bạn - Lê Huy Hòa, chen chúc trên một toa tàu hàng về quê. Những độc giả lớn tuổi ngày nay hẳn nhiều người còn nhớ những chuyến tàu khách ở miền Bắc ngày ấy. Bụi bặm, không ghế ngồi, hành khách kẻ ngồi người đứng, chen nhau ra tận đầu đấm, chạy và dừng rất tùy hứng. Vì vậy khi tàu giật mình chuyển bánh, một người không tay như Nguyễn Ngọc Ký ngã ngồi ngay lên bị trứng của người khác là chuyện đương nhiên. Nhưng những sự cố ấy chỉ là chuyện nhỏ, chuyện lớn là làm sao được cơ sở chấp nhận cho dạy học. Và đúng vậy, vừa diện kiến, ông Trưởng phòng Tổ chức Ty Giáo dục Hà Nam đã dội ngay cho anh một gáo nước lạnh:

“-Khó lắm! Anh dạy học thế nào được!...

-Thưa thầy! Đây không phải chỉ là ý nguyện của cháu, của trường Tổng Hợp mà là của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đấy ạ! 

- Của ai thì cũng thế thôi. Cái gì cũng phải gắn với thực tế. Từ xưa đến nay từ Đông qua Tây tôi biết có nhiều người liệt chân vẫn làm thầy giáo… mù vẫn làm thầy đồ… nhưng chưa bao giờ thấy có trường hợp nào làm thầy giáo mà không có tay cả. Theo tôi anh nên suy nghĩ lại. Tôi khẳng định với anh, anh không thể nào dạy học được đâu.”(tr.13).

Mười ba năm sau, năm 1983, cũng con người tưởng khô cứng ấy đã chủ động đến ôm lấy Nguyễn Ngọc Ký, nói những lời nồng nhiệt chúc mừng anh giành giải Nhất trong Hội giảng toàn tỉnh Hà Nam Ninh: “Thầy đã thực sự chinh phục được học sinh và các giáo viên dự giờ. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao 13 năm trước Thủ tướng lại gợi ý thầy về quê dạy học. Thôi, thầy thông cảm cho tôi về những ý kiến ngày đó nhé!…”(tr.141)

Chẳng ai trách ông Đoàn Phả, Trưởng phòng Tổ chức Ty Học Hà Nam ngày ấy trong việc từ chối tiếp nhận một người bị liệt hai tay vào làm cái việc chuyên viết phấn trắng lên bảng đen cả. Ông cũng như chúng ta thường tự khuôn bó mình trong thói quen “suy bụng ta ra bụng amíp”. Cái “đáng trách” ở đây là vì sao Trời lại sinh ra một Nguyễn Ngọc Ký tài tình đến thế! Tôi nói điều này hoàn toàn không bị cho là quá. Thử nghĩ xem, chúng ta, những người lành lặn, trước những công việc đời thường nhiều khi vẫn e ngại, vụng về. Còn anh: bơi lội, tưới cây, băm bèo, thái chuối, vá may, xay bột, chăm sóc trẻ con, nấu cám lợn, bê cả nồi cám nóng to nặng xuống vùi trong thúng tro, vv… chẳng nề hà, làm được tất. Có cảm tưởng với Nguyễn Ngọc Ký, khi đã quyết tâm thì không có đâu là giới hạn. Ấy là vì chúng ta những người lành, nhiều khi đơn giản chỉ làm bằng chân tay, còn anh luôn làm bằng một tư duy sáng tạo. Vì thế việc “trồng người”, một công việc sự khéo léo về thể hình chưa phải là đòi hỏi lớn nhất, đã được anh làm rất tốt. Bắt đầu bằng chuyện viết bảng.

Hãy nghe anh kể:

“Sau nhiều ngày đêm thao thức, tôi nghĩ ra ý tưởng tự chế một công cụ trợ giúp. Đó là một đoạn cây trúc nhỏ, đường kính thân  chừng 2-3 cm, dài chừng 1m. Ở đầu đoạn cây gắn chiếc mỏ được cuộn bằng một miếng sắt tây cắt ra từ vỏ lon sữa. Nơi miệng chiếc mỏ ấy tôi cho ngậm viên phấn ở thế vuông góc với thân đoạn trúc. Khi sử dụng tôi ngồi trên chiếc ghế dựa giành cho giáo viên đặt gần góc bảng, dùng chân phải cặp chặt phần đuôi gậy điều khiển để chiếc mỏ gậy có gắn phấn tỳ vào bảng viết các chữ theo yêu cầu…” (tr.31) Khi gần đạt tới thành công thì thầy Châu, người đã dày công dạy dỗ anh từ những ngày còn là học sinh trường cấp 2 Hải Thanh, nói thẳng:

“Ta nói thật nhé. Nếu chữ viết bằng tay mà thế thì chỉ đáng điểm 0. Không thể ỷ vào việc viết bằng chân mà tự mình làm mất danh dự mình khi phải cầu xin sự cảm thông của trò” (tr.33).

Trước sự nghiêm khắc, không hề xuê xoa của người thầy – người đồng nghiệp, Nguyễn Ngọc Ký hiểu ngay mình không thể tiếp tục tìm cách viết bảng theo hướng đó. Và anh đã bắt đầu lại từ trang giáo án, cuối cùng tìm ra cách thay thế, được đồng nghiệp hoan nghênh, được học sinh đón nhận. Đấy là, soạn giáo án, sau đó lấy tờ giấy rô ky viết sẵn ở nhà bằng chân rất chỉnh tề, những nội dung then chốt. Đến lớp, nhờ học sinh treo lên. Để khỏi “lộ bài”, thầy Ký che phủ nó bằng một tờ rô ky trắng. Dạy đến đâu, từ từ kéo cho tờ giấy trắng tụt xuống bằng một sợi dây kéo đính với hai đầu tấm giấy. Cứ thế những dòng chữ đầy ấn tượng ở tấm giấy bên trong lần lượt xuất hiện trước những đôi mắt tròn xoe ngỡ ngàng của các em học sinh. “Kiên trì và nhẫn nại/ Không chịu lùi một phân” (Thơ Bác Hồ), những khó khăn dần được anh chinh phục.

“Muốn giáo dục con người về mọi mặt thì phải hiểu con người về mọi mặt.” (Usinxki, nhà Sư phạm Nga). Có bao nhiêu học sinh, có bấy nhiêu hoàn cảnh, bấy nhiêu tính cách, bấy nhiêu biện pháp giáo dục khác nhau. Em Bội, siêu quậy lớp 7A, nổi tiếng to cao, hiếu động, sẵn sàng cà khịa với bất kỳ ai khi có chuyện bất thường dù nhỏ nhặt; dù học trên mình hai, ba lớp. Sau nhiều ngày trăn trở, bàn thảo với các giáo viên dạy bộ môn ở lớp, dù  không ít người phản đối, thầy Ký vẫn đi đến quyết định thuyết phục cả lớp: bầu Bội làm lớp phó phụ trách lao động. Từ đó em tiến bộ trông thấy. Ít gây gổ với bạn bè hơn. Chăm chỉ, gương mẫu hơn. Đặc biệt trong việc lao động của lớp em tỏ ra rất năng động, sáng tạo.

Em Nụ một nữ sinh ngoan hiền, chăm chỉ, học lực luôn ở tốp dẫn đầu của nhóm nữ, chỉ vì một câu nói bất cẩn của cô Thương dạy Toán mà bỏ học. Không thể để Nụ giữa đường đứt gánh. Thầy Ký đã nhiều lần đến nhà tìm lời hơn lẽ thiệt thuyết phục em. Nói với gia đình. Đưa cô Thương đến gặp em xin lỗi. Song em vẫn một mực chối từ. Cuối cùng dù rất không muốn, nhưng vì tiền đồ của em, thầy đành tìm giải pháp động viên em chuyển sang học lớp 6A không có cô Thương dạy toán, Nụ mới chịu cắp sách trở lại trường.

Em Tam, một học sinh cá biệt, nhà ở một xóm nhỏ giữa cánh đồng, đường vào phải qua chiếc cầu khỉ bắc bằng một thân cau, mỗi bên được gác lên hai cây tre vắt chéo, trên có tay vịn là một đoạn tre thon nhỏ. Ai qua cũng  phải vịn tay vào đó. Thầy Ký thì tay đâu có, qua cầu thế nào đây?  Liệu có an toàn không? Nhỡ ngã thì sao nhỉ? Và quả là thầy đã ngã rơi xuống nước, khi một đầu cầu bỗng dưng tuột khỏi mố. Mang bộ quần áo lấm lem bùn đất, thầy Ký vào nhà gặp mẹ con Tam chuyện trò, tặng sách vở. Tiễn thầy ra về, trước khi qua cầu, Tam kéo thầy lại nói trong nước mắt: “Thưa thầy! Em xin lỗi thầy! Chính em đã bày ra trò làm cho cây cầu lúc nãy bị trượt, chỉ vì em sợ thầy sẽ kể tội em với mẹ. Giờ thì em đã hiểu thầy thương em như thế nào. Em hứa từ mai sẽ sửa hết mọi tội!”. Sau này Nguyễn Văn Tam trở thành một cán bộ của Công ty Sông Đà. Trong lần thầy trò gặp lại nhau ở Hà Nội năm 1985, anh đã nói với mọi người:“Nếu không có thầy Ký sẽ không có tôi hôm nay!” (tr.125)

Rồi chuyện trò Thêu bị mất dép, trò Hà đánh rơi đồng hồ. Bằng sự phán đoán thông minh, sự am hiểu sâu sắc tâm lý của lứa tuổi mà những trò nghịch ngợm chỉ xếp sau ma quỷ, thầy đã dụng công tìm ra cách giải quyết tuyệt vời để “Châu về Hợp phố”. Nói thế, không có nghĩa là lúc nào Nguyễn Ngọc Ký cũng thành công. Cũng có khi anh không nắm được hoàn cảnh của học trò, sinh bộp chộp, vô tình động đến nỗi đau trong thẳm sâu con tim của trò khiến em bị tổn thương (Thật đáng trách, tr.113). Nhưng sau mỗi vấp váp, bao giờ anh cũng biết tự vấn, rút kinh nghiệm để không lặp lại sai lầm, để công việc dạy học được tốt hơn.

Nguyễn Ngọc Ký quan niệm: “Đã là con ngươi không ai không thích được yêu thương. Lòng yêu thương có sức mạnh thần bí như một thứ từ trường kỳ lạ. Nó đủ sức uốn mềm những thanh sắt bướng bỉnh, đủ sức hóa ánh ngày những khoảng tối trong mỗi con người” (tr.218). Từ quan niệm thấm đẫm tính nhân văn ấy, trong mấy mươi năm làm thầy, anh luôn  lấy tình yêu thương làm điểm xuất phát cho mọi hành động giáo dục của mình. Điều này lý giải vì sao, không chỉ những học sinh ở những lớp thầy Ký từng làm Chủ nhiệm, mà ngay cả những em chỉ biết thầy Ký qua một buổi thầy tình cờ đứng lớp. Khi trưởng thành gặp lại vẫn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, như Vũ Văn Khánh, Tiến sĩ, Vụ trưởng Vụ… Bộ Kế hoạch & Đầu tư, khi được bạn bè tán dương trong một cuộc gặp gỡ thầy trò, đã nói:“- Thôi thôi! Các bạn cứ gọi tôi HỌC TRÒ THẦY KÝ là tôi vui nhất, vinh dự nhất!” (tr.124).

Đến đây, có thể có người nói, Nguyễn Ngọc Ký thành đạt là do anh gặp được nhiều người tốt. Đọc “Tâm huyết trao đời  -  Tôi dạy học” ta thấy nhiều người tốt. Đấy là Lê Huy Hòa, người bạn luôn đồng hành cùng Nguyễn Ngọc Ký trong những lúc gian khó; là thầy Châu, ngày thường chăm sóc chiếc xe đạp của mình như một đứa con cưng, nhưng khi biết Ngọc Ký cần, đã tự mình mang xe đến cho Ký và Hòa mặc sức xài xể; là thầy Đặng Ngọc Chi, nghĩa huynh của Ngọc Ký đã nhiệt tình hết mức trong việc tác thành hạnh phúc lứa đôi cho anh; là Giáo sư Hoàng Như Mai; là bà má Sài Gòn làm nghề buôn bán nhỏ; là bác sĩ Trương Thìn, Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh; là anh thương binh Võ Sỹ Lạng ở quận 10… Nhưng đặc biệt hơn cả trong số những người tốt Nguyễn Ngọc Ký đã gặp, theo tôi là Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Đọc anh, tôi không thể cắt nghĩa nổi vì sao một người cầm lái con thuyền quốc gia, giữa trăm công ngàn việc của một lãnh tụ, trong suốt quãng đời trưởng thành của Nguyễn Ngọc Ký đã không quên điều gì, luôn dành cho anh những săn sóc, quan tâm hết sức cụ thể, hết sức thiết thực… “Linh tại ngã, bất linh tại ngã”. Tình thương, sự cảm phục chỉ đến khi Nguyễn Ngọc Ký từ một cậu bé tật nguyền đã có những cố gắng phi thường để không chỉ sống được như một người bình thường, mà hơn thế, trở thành một Nhà giáo ưu tú, một nhà văn yêu thích của nhiều lứa độc giả. Tấm gương vượt khó của anh lay động sâu xa lòng người, tạo nên một hiệu ứng xã hội rộng lớn trong việc động viên con người sống đẹp, sống thiện.

“Tâm huyết trao đời”hoàn thành ở tuổi 70, trong điều kiện một tuần phải chạy thận ba lần. Thêm một điều nữa, một lần nữa cho ta khâm phục Nguyễn Ngọc Ký.

( Theo Văn nghệ BR-VT số 147)


Tags:

BIỂN NHỚ

  Hoàng Kim Vũ Kìa biển chiều nay- Biển nhớ ai? Mà sao mắt sóng kh&e...

Em đi tìm Anh

          Xuân Thanh Tặng L.T.H   Em đi t&igr...